âm nhạc

Chào mừng quý vị đến với website của bùi ngọc sơn

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Bài viết >

Tư liệu tìm hiểu mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào

Ấn tượng về đất nước Lào tươi đẹp
 
 
 

(QT) - Nước Lào, trước đây còn gọi là Vương   quốc Lạn Xạng, “Lạn” tiếng Lào là triệu, “Xạng” là voi. Lạn Xạng có nghĩa là   Triệu Voi. Được mệnh danh là Miền đất Triệu Voi- Lào nằm ở nơi giao hội của   hai nền văn minh vĩ đại và hùng mạnh nhất châu Á là Ấn Độ và Trung Hoa, người   dân Lào đã hấp thụ những phong tục và tín ngưỡng của hai nền văn minh ấy để   hình thành nên một nền văn hóa đặc sắc của riêng mình hết sức độc đáo.
 

  Nền văn hóa Lào là nền văn hóa Phật giáo. Đạo Phật đã ăn sâu vào tư tưởng của   người Lào, ảnh hưởng này được phản ánh trong ngôn ngữ và nghệ thuật, tạo nên   một dân tộc Lào rất riêng. Với dân số khoảng 7 triệu người và có tới 1.400   ngôi chùa lớn nhỏ, Lào là nước có tỉ lệ chùa so với dân số cao nhất thế giới.   Chùa chiền, đền tháp là nơi gắn bó cả đời với người Lào, cũng là chất keo   cộng đồng gắn kết các bộ tộc Lào lại với nhau- chất keo văn hoá Phật giáo.   Chùa chiền với những mái ngói uốn cong nhiều dáng vẻ còn là biểu hiện sự phát   triển của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và thẩm mỹ của người Lào. Lễ hội   gắn với chùa chiền, chùa chiền gắn liền với làng bản, là nơi để mọi người gặp   gỡ, vui chơi và múa hát, góp phần tạo nên bản sắc văn hoá Lào trường tồn,   lung linh và quyến rũ. 


  Lào là đất nước bốn mùa lễ hội. Cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á,   lễ hội tại đất nước Lào cũng chia làm 2 phần, phần lễ và phần hội. Phần lễ là   phần nghi thức do chính con người đặt ra để giao cảm với thần linh và phần   hội chủ yếu là vui chơi, giải trí. Lào có tết cổ truyền Bunpimay (có nghĩa là   mừng năm mới), hay còn gọi là Tết Té nước diễn ra từ ngày 13 đến ngày 16   tháng 4 hàng năm. Vì đạo Phật ở Lào có từ lâu đời, phát triển mạnh trở thành   quốc đạo, các nhà chiêm tinh học tính ngày tháng theo phật lịch, nên năm mới   hàng năm bắt đầu vào tháng tư dương lịch. Người Lào gọi tết là vui tết chứ   không gọi là ăn tết, tất cả các cuộc vui được chuẩn bị theo truyền thống tôn   giáo, phù hợp với phong tục tập quán của người Lào.
 
  Trong những ngày lễ hội, vui chơi là chủ yếu, tuy nhiên họ cũng chuẩn bị đồ   ăn, thức uống thịnh soạn hơn ngày thường, đặc biệt là không thể thiếu rượu.   Ngày tết từ sáng sớm dân làng diện những bộ đồ đẹp nhất, với màu sắc sặc sỡ,   tập trung tại sân chùa để dự lễ tắm Phật. Xong lễ tắm Phật, mọi nhà làm lễ   buộc cổ chỉ tay cho những người thân trong nhà, tục lễ này gọi là pục khén   hay còn gọi là xù khoắn, lễ gọi hồn vía. Nhân dịp đầu năm con cháu chúc ông   bà, cha mẹ, bạn bè, người thân gặp may mắn hạnh phúc.
 
  Cũng vì lẽ đó, lễ mừng năm mới còn gọi lễ té nước (gọi là bun hốt nậm), trong   những ngày lễ, thanh niên nam, nữ thường té nước cho nhau vừa chúc mừng nhưng   cũng vừa để tỏ tình. Bun hốt nậm còn có ý nghĩa về chuyện chuyển năm và cũng   là chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa; sau những tháng ngày hanh khô, những   cơn mưa rào ập đến mang nước mát tưới cho núi rừng, cỏ cây, ruộng đồng, màu   xanh tươi mát của chồi non vụt nhú lên báo hiệu một mùa làm ruộng, rẫy mới.   Người dân té nước để cầu may, cầu bình yên cho cả năm, cầu cho mưa thuận gió   hoà, mùa màng tươi tốt.
 
  Trong những ngày này, mọi người thăm viếng chúc tụng lẫn nhau, ăn uống, vui   chơi, múa hát cầu mong quốc thái dân an, nhà nhà hạnh phúc, người người ấm   no… Với người Lào, những phong tục trong lễ hội Bunpimay mang ý nghĩa đem lại   sự mát mẻ, phồn vinh cho vạn vật, ấm no, hạnh phúc cho cuộc sống, là dịp để   nuôi dưỡng và hun đúc nghệ thuật dân tộc.
 
  Chăm pa (hoa đại) là một loài hoa biểu tượng của đất nước và con người Lào.   Mang đậm một bản sắc riêng biệt, hương sắc ngào ngạt của hoa chăm pa phản ánh   rõ tính cách, tâm hồn của dân tộc Lào, với những con người có một vẻ đẹp giản   dị, chan hoà và chất phác, thật thà. Người dân Lào thường trồng hoa chăm pa   để tô điểm cho vẻ đẹp thanh bình êm ả của đất nước và sống động hơn trong   không khí hội hè. Đến với đất nước Lào là đến thăm đất nước hoa chăm pa xinh   đẹp. Hạnh phúc biết bao khi được các cô gái choàng lên cổ vòng hoa chăm pa,   buộc vào cổ tay vòng chỉ cầu mong phúc lành, say sưa không muốn dứt trong   những điệu múa lăm vông dưới bóng cây chăm pa.
 
  Văn hoá Lào như một dòng chảy ngọt ngào đời này qua đời khác, hun đúc nên tâm   hồn, cốt cách và văn hoá của người Lào. Qua thời gian, được kết tinh ở những   phong tục văn hoá đẹp đẽ như Tết Té nước để giải trừ mọi lo âu phiền muộn;   buộc chỉ cổ tay chúc phúc người thân, chúc phúc khách quý, bạn bè... đó là mỹ   tục độc đáo và hiếm có. Và hoà cùng với tiếng chiêng, tiếng khèn, điệu lăm   vông mềm mại uyển chuyển làm say đắm lòng người, như mời gọi, như níu giữ   bước chân du khách đã đặt chân đến đất nước Lào là không muốn rời xa.
 
  Đất nước Lào có nhiều công trình lịch sử văn hoá, có thiên nhiên tươi đẹp, có   nhiều cảnh quan kỳ thú như Thạt Luổng (Viêng Chăn), cố đô Luông Phra-băng (di   sản văn hoá thế giới), chùa Vạtxixun, núi Phú Xỉ, Cánh Đồng Chum huyền bí   (Xiêng Khoảng), thác Khôn, thác Quang Xi, Hang Thẳm tình...
 
  Đất nước, con người và nền văn hoá Lào là đang mang trong mình nguồn sức mạnh   vô biên, ẩn chứa biết bao điều kỳ diệu, đó chính là tiềm năng và là nguồn nội   lực to lớn. Tiềm năng và nguồn lực to lớn đó đang được Đảng, Nhà nước và nhân   dân các bộ tộc Lào trân trọng, giữ gìn, bồi đắp và phát huy trong thời đại   mới, thời đại hội nhập và phát triển.
 
                                               TỪ QUANG HOÁ

 

Gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu   nghị đặc biệt Việt Nam- Lào
 
 

(QT) - Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào   - Việt Nam là tài sản chung vô giá của hai dân tộc, là nhân tố bảo đảm thắng   lợi cho sự nghiệp cách mạng của mỗi nước. Để gìn giữ, củng cố và phát huy   truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam chúng ta có thể   rút ra một số kinh nghiệm sau đây:
 

  Một là, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào- Việt Nam được tạo dựng trên cơ   sở xác định đúng đắn những quan điểm lý luận về mối quan hệ dân tộc và quốc   tế trong thời đại mới nhằm thực hiện nhiệm vụ cách mạng do hai nước xác lập.   Quan hệ đó dựa trên cơ sở cả hai dận tộc Việt Nam và Lào đều khẳng định con   đường cách mạng vô sản là con đường giải phóng và phát triển của Đông Dương.
 
  Quan hệ đó được kiểm nghiệm trong lịch sử, trải qua nhiều thử thách, hy sinh,   gian khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước,   quan hệ Việt Nam- Lào đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa   tới nhiều thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân   tộc, trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng phát triển theo định hướng xã   hội chủ nghĩa. Nếu một trong hai nước xa rời Chủ nghĩa Mác - Lênin, chệch   hướng con đường mà Đảng của mỗi nước đã chọn thì có nguy cơ phá vỡ mối quan   hệ đặc biệt ViệtNam -   Lào, Lào - ViệtNam. 


  Hai là, cả hai dân tộc Việt Nam   và Lào đều phải quán triệt và thực hiện tốt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí   Minh “Giúp bạn là mình tự giúp mình”. Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam-   Lào, Lào - Việt Nam   được nuôi dưỡng, phát triển bằng sức cảm hóa sâu sắc của quan điểm “Giúp bạn   là mình tự giúp mình” do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn. Đây là câu nói cô   đọng, giàu ý nghĩa chính trị, nhân văn, mở ra phương hướng xử lý hài hòa lợi   ích của hai dân tộc, là vũ khí sắc bén chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ban   ơn.
 
  Chúng ta thấy rằng, trong tiến trình cách mạng của hai nước thời gian qua,   mỗi bước phát triển của cách mạng Lào tạo hậu thuẫn cho cách mạng Việt Nam   giành thắng lợi và ngược lại, thắng lợi của cách mạng Việt Nam tạo điều kiện   cho cách mạng Lào phát triển. Vì vậy, cần có một nhận thức thống nhất trong   cán bộ và nhân dân hai nước về tính chất đặc biệt này. Cả hai bên cần có tầm   nhìn rộng hơn, toàn diện và lâu dài hơn chứ không chỉ ở các lợi ích kinh tế   thuần túy và ngắn hạn.
 
  Ba là, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào phải luôn coi   trọng thực hiện nguyên tắc tôn trọng quyền độc lập, tự chủ, bình đẳng và dân   chủ của hai bên. Tại cuộc hội đàm với đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân   cách mạng Lào, ngày 9/7/1961, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành   Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trình bày về nguyên tắc lớn và lề lối làm   việc giữa hai Đảng, bao gồm những nội dung: “Mọi công việc ở Lào đều do Đảng   Lào phụ trách. Cách mạng Lào do đồng chí Lào lãnh đạo, đường lối, chủ trương   do Đảng Lào đề ra. Việt Nam   góp ý kiến. Cũng có lúc Việt Nam   thấy vấn đề trước thì Việt Nam   đề xuất ý kiến trước, nhưng quyền quyết định vẫn do Đảng Lào”.
 
  Ở phạm vi quan hệ giữa Đảng Lào với các đảng anh em khác thì “Đảng Lào tự   mình bàn bạc thương lượng với các đảng anh em trong mọi vấn đề có liên quan.   Trong phạm vi nào đó theo yêu cầu của các đảng anh em và với sự thỏa thuận   của Đảng Lào, Việt Nam có thể làm trung gian giúp đỡ”
 
  Về quan hệ giữa hai nước, hai Chính phủ, đồng chí Lê Duẩn cho rằng: “Tất   nhiên có những quan hệ khác hơn quan hệ hai Đảng. Những vấn đề lớn trong quan   hệ giữa hai Chính phủ thì hai Đảng cũng cần có sự trao đổi ý kiến trước với   nhau”
 
  Về phía Lào, giải thích rõ nguyên tắc độc lập, tự chủ và giá trị của nó,   trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc Lào ngày 13/5/1974, Chủ   tịch Cayxỏn Phomvihản nói: “Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta phải do nhân   dân ta tự làm lấy. Đảng ta là một đảng lãnh đạo cách mạng thực sự, do đó phải   giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ thì mới chứng minh một cách đầy đủ chủ   nghĩa yêu nước nồng nàn kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng”.
 
  Trên cơ sở nhận thức quá trình toàn cầu hóa và sự hội nhập giữa các nước   trong khu vực Đông Nam Á, Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VIII Đảng   Nhân dân cách mạng Lào (tháng 3/2006) nêu rõ: “Kiên định quan điểm chủ động   và thái độ tích cực trong hội nhập quốc tế và khu vực bằng việc phát huy cao   độ sức mạnh của dân tộc và tiềm năng của đất nước. Cộng hòa Dân chủ nhân dân   Lào sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước nhằm đảm bảo lợi   ích chung và lợi ích riêng của mỗi bên”. Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng   định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp   tác và phát triển.”
 
  Tiếp tục tinh thần và nguyên tắc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân   cách mạng Lào chủ trương đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam   - Lào phải trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và ý chí tự lực, tự   cường, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi. Thực hiện tốt 4 nguyên tắc mà Hội   nghị cấp cao ba nước Đông Dương diễn ra tại thủ đô Viên Chăn từ ngày 22 đến ngày   23/2/1983 đã thống nhất, trong đó chú ý đến vấn đề: Quan hệ giữa ba nước sẽ   được giải quyết bằng thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và   toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
 
  Bốn là, để việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt   Việt Nam- Lào ngày càng tốt đẹp, hai Đảng, hai Nhà Nước cần thường xuyên   thông báo cho nhau về tình hình mỗi Ðảng, mỗi nước. Thường xuyên trao đổi về   các phương hướng, biện pháp không ngừng phát triển quan hệ hai Ðảng, hai   nước, cũng như những vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm.
 
  Chính phủ hai nước cần tích cực chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai   thực hiện Hiệp định hợp tác 5 năm 2011-2015 và Chiến lược hợp tác 10 năm   2011- 2020. Tăng cường quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các địa phương   của hai nước, nhất là các địa phương có chung biên giới.
 
  Sớm kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả hoạt động   của Ủy ban Liên Chính phủ và bộ phận thường trực Phân ban hợp tác Việt Nam-   Lào, Lào- Việt Nam. Phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp   nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào trong giai   đoạn mới.
 
  Hợp tác chặt chẽ giữa hai nước trong việc thực hiện chiến lược phát triển.   Đẩy mạnh hợp tác về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đào tạo và phát triển   nguồn nhân lực. Trong hoàn cảnh nào hai Đảng và nhân dân hai nước cũng làm   hết sức mình để giữ gìn và vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào mãi   mãi xanh tươi, đời đời bền vững, truyền mãi cho các thế hệ mai sau.
 
                                                    NGUYỄN VŨ QUYỀN

 

 

Những thành tựu quan trọng trong quan hệ đặc   biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam
 
 

(QT) - Kể từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc   thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2/1930 và sau đó đổi tên thành   Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10/1930), mối quan hệ truyền thống, lâu đời   của hai dân tộc Việt Nam- Lào được nâng lên thành quan hệ đặc biệt, không   ngừng được hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước vun đắp và đạt được   những thành tựu có ý nghĩa quan trọng.
 

  Trung tuần tháng 8/1945, thời cơ giành độc lập cho Đông Dương đã đến, lãnh tụ   Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định   Tổng khởi nghĩa và tiến hành Hội nghị toàn Đảng tại Tân Trào (Tuyên Quang vào   ngày 14 và 15/8/1045).
 
  Vào thời điểm này, Bác Hồ gặp các đồng chí đại biểu Xứ ủy Lào, Người dặn:   Thời cơ rất thuận lợi cho nhân dân Đông Dương, ở đâu có điều kiện, phải giành   được chính quyền khi Đồng minh vào... Nhân dân hai nước Việt, Lào chớp thời   cơ, tiến hành khởi nghĩa thành công tháng 8/1945. Đó là kỳ tích đầu tiên của   hai nước Việt Nam- Lào, của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam,   đặt nền tảng vững chắc cho mối quan hệ phát triển rực rỡ trong giai đoạn sau. 


  Hai dân tộc Việt Nam,   Lào vừa giành được quyền độc lập, đã phải đối phó ngay với thực dân Pháp quay   trở lại xâm lược. Bên cạnh mở rộng mặt trận ngoại giao, liên minh với các dân   tộc bị áp bức và vô sản thế giới, đặc biệt với các nước lân cận để củng cố   công cuộc cách mạng của mình, việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt   đầu tiên cho nhiệm vụ tăng cường quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trở   nên cấp bách. Việt Nam tận tình giúp Lào đào tạo cán bộ, truyền bá kinh   nghiệm vận động quần chúng, giúp đỡ bạn xây dựng cơ sở chính trị, lực lượng   vũ trang tuyên truyền, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành các khu kháng   chiến, từng bước đưa phong trào cách mạng Lào phát triển.
 
  Cuối tháng 4 đến giữa tháng 5/1953, liên quân chiến đấu Việt Nam - Lào mở   chiến dịch Thượng Lào giành thắng lợi lớn, giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa,   một phần tỉnh Xiêng Khoảng và Phôngxalỳ, mở rộng căn cứ địa cách mạng Lào.   Đối với Việt Nam, chiến dịch Thượng Lào đã góp phần phân tán lực lượng địch,   phá tan âm mưu củng cố vùng Tây Bắc và bình định vùng đồng bằng Bắc bộ của   Pháp.
 
  Tiếp đó, từ tháng 12/1953 đến tháng 5/1954, liên quân chiến đấu Việt Nam- Lào mở   chiến dịch Trung- Hạ Lào. Thắng lợi của chiến dịch buộc Nava phải tiếp tục   phân tán khối cơ động chiến lược của chúng, góp phần làm giảm khối chủ lực   của địch trên chiến trường chính Bắc bộ, nhất là đối với hướng chính Điện   Biên Phủ.
 
  Khi quân và dân ta tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, quân   và dân Lào đã anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chi viện chiến lược của   địch cho Điện Biên Phủ, góp phần cô lập địch ở đây, tạo điều kiện thuận lợi   cho quân và dân Việt Nam giành thế chủ động tiến công địch, giành thắng lợi   hoàn toàn.
 
  21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một chặng đường kế tục, phát triển quan   hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đã trở thành giá trị thiêng liêng   của hai dân tộc. Hoạt động phối hợp đấu tranh của các cơ quan lãnh đạo cùng   quân và dân Việt Nam, Lào đều xuất phát từ tình cảm sâu đậm, trách nhiệm cao   cả của hai phía Việt Nam, Lào dành cho nhau, tạo nên những nguồn lực mới,   những nấc thang phát triển mới của nội lực từng dân tộc, của quan hệ đặc biệt   Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung và mở   đường đi tới toàn thắng.
 
  Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Lào luôn hết lòng giúp đỡ, ủng hộ nhân   dân Việt Nam.   Đáp lại, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam cũng dốc hết sức vì sự nghiệp   cách mạng Lào. Trên tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, quân tình nguyện và   chuyên gia quân sự Việt Nam đã có mặt ở hầu hết mọi nơi trên chiến trường   Lào, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh, cùng nhân dân và quân đội Lào đấu   tranh, đánh địch đến thắng lợi hoàn toàn.
 
  Sau khi hai dân tộc kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, vào   ngày 18/7/1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa   Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã được ký hết, là sự kiện mở đầu   cho quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn cách mạng mới. Đây là văn   kiện mang tính chính trị, pháp lý cơ bản, bền vững lâu dài trên nguyên tắc   hoàn toàn bình đẳng.
 
  Hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên trao đổi ý kiến về vấn đề lý luận và chỉ   đạo thực tiễn sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Lào, khơi dậy   nội lực và mở rộng quan hệ quốc tế, đem lại sự đổi mới toàn diện cho mỗi   nước. Cùng với những hoạt động bảo vệ an ninh chính trị, chủ quyền quốc gia,   hai bên còn phối hợp chặt chẽ trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giúp đỡ nhau   về hậu cần kỹ thuật, đặc biệt là việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ quân tình   nguyện Việt Nam   hy sinh trên đất Lào.
 
  Trên lĩnh vực kinh tế, hai bên chấp hành nguyên tắc hợp tác là bình đẳng, tôn   trọng chủ quyền quốc gia, cùng có lợi và hết lòng giúp đỡ nhau; đồng thời,   căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi nước mà dành ưu tiên, ưu đãi cho nhau.   Điểm đặc biệt nổi bật trong quan hệ hợp tác kinh tế Lào - Việt Nam là tinh   thần giúp đỡ nhau mỗi khi nước bạn gặp khó khăn mà không thể tự giải quyết   được.
 
  Trong hợp tác phát triển văn hóa thì lĩnh vực giáo dục, đào tạo cán bộ được   đặt ở tầm chiến lược, tác động trực tiếp tới sự phát triển của quan hệ đặc   biệt giữa hai dân tộc, được mở đầu từ thập niên 1950. Từ đó đến suốt cuộc   kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng vạn học sinh Lào được học tập tại Việt Nam từ cấp   tiểu học đến THPT. Việt Nam   còn gửi chuyên gia sang Lào giúp bạn xây dựng một nền giáo dục mới theo yêu   cầu của bạn. Từ sau năm 1975, Việt Nam giúp bạn đào tạo cán bộ đạt   trình độ đại học và trên đại học. Theo đó, hàng năm có hơn 1.000 cán bộ, sinh   viên Lào được bồi dưỡng, học tập tại nhiều học viện, trường đại học Việt Nam. Về phía   Việt Nam,   hàng năm có từ 15-20 lưu học sinh sang học tại Đại học Quốc gia Lào.
 
  Đi đôi với mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước,   các bộ, ngành trung ương, còn có mối quan hệ kết nghĩa giữa toàn bộ các tỉnh   có chung đường biên giới cũng như các tỉnh không có chung biên giới giữa hai   nước với nhau. Các địa phương đã phối hợp chặt chẽ về trao đổi đoàn tham   quan, cùng giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cũng như cùng tháo gỡ những khó khăn giữa   hai nước. Các Hội hữu nghị Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam và cộng đồng người   Việt Nam tại Lào đã có nhiều đóng góp đáng kể trong vai trò làm cầu nối quan   trọng trong việc giữ gìn và phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam -   Lào, Lào - Việt Nam.
 
                                                     LÊ THỊ HỒNG

 

 

Không ngừng phát huy tình đoàn kết, hữu nghị   đặc biệt Việt Nam- Lào
 
 
 

(QT) - Ngày 5/9/1962, nước Việt Nam Dân chủ   Cộng hoà và Vương quốc Lào đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Tháng   12/1975, cách mạng Lào thành công, nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào được   thành lập. Ngày 18/7/1977, Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam-Lào đã được   ký kết.
 
 
Từ quan hệ truyền thống, thân thiện   lâu đời giữa hai dân tộc, mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã phát   triển thành quan hệ đặc biệt. Mối quan hệ đặc biệt ViệtNam - Lào được xây đắp, nuôi dưỡng bằng công   sức, của cải, xương máu của nhiều thế hệ cách mạng người ViệtNam và   Lào. 


  Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây   dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí   Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước dày công vun đắp,   đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân cách mạng   Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản chất của quan hệ đặc biệt đó bắt nguồn từ   lòng yêu nước nồng nàn kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, tình đoàn   kết thủy chung và niềm tin về lòng chân thành, trong sáng mà hai dân tộc Việt   Nam, Lào dành cho nhau; sự giúp đỡ đến mức cao nhất nhằm thực hiện thắng lợi   các nhiệm vụ cách mạng và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển tương lai   của hai dân tộc. Mối quan hệ đặc biệt này mang tính xuyên suốt, toàn diện và   bền vững. Xây dựng, bảo vệ và phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là sự   nghiệp của nhân dân hai nước.
 
  Trải qua rất nhiều gian nan, thử thách khắc nghiệt, quan hệ đó vẫn vẹn   nguyên, không hề bị rạn nứt và phá vỡ cho dù các thế lực thù địch dùng nhiều   thủ đoạn chống phá, chia rẽ. Tính đặc biệt của quan hệ Việt Nam – Lào, Lào -   Việt Nam được tạo dựng trên nền tảng quan điểm, nguyên tắc, phương pháp và cơ   chế phù hợp với điều kiện cụ thể của hai dân tộc Việt Nam - Lào. Bản chất của   quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam được nuôi dưỡng, phát triển   bằng sức cảm hóa sâu sắc của quan điểm “giúp bạn là tự giúp mình” như lời dạy   của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 
  50 năm qua, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào -Việt Nam là nguồn sức   mạnh vô tận của cách mạng Việt Nam, Lào, là di sản văn hóa của hai dân tộc,   đưa cách mạng Việt Nam, Lào đi tới nhiều kỳ tích lịch sử. Lãnh đạo hai Đảng,   hai Nhà nước và các bộ, ngành, đoàn thể quần chúng và nhân dân hai nước đã   thường xuyên gặp gỡ, trao đổi, tạo ra một truyền thống quý báu, làm sâu sắc   và củng cố vững chắc sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa lãnh đạo và nhân   dân hai nước. Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế ngày càng phong phú, đa dạng   trên cơ sở đi vào trọng tâm, trọng điểm và tăng trưởng không ngừng.
 
  Sự tăng trưởng kim ngạch buôn bán hai chiều là kết quả của những nỗ lực không   ngừng của hai bên trong việc thực hiện những ưu tiên, ưu đãi trong hợp tác   kinh tế, thương mại đã được ghi trong Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác cũng như   trong những thỏa thuận cấp cao hai nước. Về đầu tư, Việt Nam đã có nhiều dự   án đầu tư tại Lào với số vốn ngày càng tăng, là nước đứng thứ hai trong số   những nước đầu tư vào Lào. Đầu tư của hai bên đã tập trung vào các lĩnh vực   trọng điểm như điện lực, lâm nghiệp, khảo sát và khai khoáng, giao thông vận   tải, trồng cây công nghiệp. Các chính sách ưu tiên, ưu đãi và hiệu quả đầu tư   giữa hai nước đang mở ra thời kỳ hợp tác đầy triển vọng tốt đẹp đối với sự   phát triển kinh tế, thương mại giữa hai nước. Về văn hóa, thông tin, truyền   hình, nghệ thuật, thể thao, y tế và đặc biệt về giáo dục-đào tạo được quan   tâm và không ngừng phát triển. Hàng năm, hai bên đã trao đổi hàng trăm học   sinh, thực tập sinh, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, đáp ứng yêu cầu đào tạo   nguồn nhân lực trong công cuộc đổi mới. Hợp tác về quốc phòng - an ninh cũng   được coi trọng và là nhân tố bảo đảm cho sự bình yên của mỗi nước. Những   thành tựu hợp tác trên phản ánh sâu sắc sự quan tâm của hai Đảng, hai Nhà   nước và nỗ lực chung của nhân dân hai nước.
 
  Để tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào lên tầm   cao mới cần bổ sung và điều chỉnh cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức   chỉ đạo hợp tác cho phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới của sự hợp tác   toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế   và khu vực hiện nay và những năm tới, càng cần phải đẩy nhanh việc điều chỉnh   kịp thời, linh hoạt các nội dung đã thỏa thuận bằng các văn bản hợp tác nhằm   tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị hợp tác thực hiện có hiệu quả những mục   tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra.
 
  Trên cơ sở những kết quả to lớn của sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào những   năm qua, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước thống nhất đặt ưu tiên cao   nhất cùng phấn đấu nâng quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam lên   tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả, góp phần giữ vững ổn   định an ninh chính trị, tăng trưởng kinh tế bền vững, hội nhập ngày càng sâu   rộng và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Tiếp tục củng cố, tăng cường   sự gắn bó, tin cậy và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trong những vấn đề có   tính chiến lược giữa hai Đảng, hai nước; duy trì các cuộc gặp cấp cao truyền   thống. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú, hiệu   quả và thiết thực về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc   biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào cho toàn thể cán bộ, đảng viên và   nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
 
                                                 NGUYỄN TRÍ ÁNH

 

 

Không ngừng phát huy tình đoàn kết, hữu nghị   đặc biệt Việt Nam- Lào
 
 
 

(QT) - Ngày 5/9/1962, nước Việt Nam Dân chủ   Cộng hoà và Vương quốc Lào đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Tháng   12/1975, cách mạng Lào thành công, nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào được   thành lập. Ngày 18/7/1977, Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam-Lào đã được   ký kết.
 
 
Từ quan hệ truyền thống, thân thiện   lâu đời giữa hai dân tộc, mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã phát   triển thành quan hệ đặc biệt. Mối quan hệ đặc biệt ViệtNam - Lào được xây đắp, nuôi dưỡng bằng công   sức, của cải, xương máu của nhiều thế hệ cách mạng người ViệtNam và   Lào. 


  Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây   dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí   Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước dày công vun đắp,   đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân cách mạng   Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản chất của quan hệ đặc biệt đó bắt nguồn từ   lòng yêu nước nồng nàn kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, tình đoàn   kết thủy chung và niềm tin về lòng chân thành, trong sáng mà hai dân tộc Việt   Nam, Lào dành cho nhau; sự giúp đỡ đến mức cao nhất nhằm thực hiện thắng lợi   các nhiệm vụ cách mạng và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển tương lai   của hai dân tộc. Mối quan hệ đặc biệt này mang tính xuyên suốt, toàn diện và   bền vững. Xây dựng, bảo vệ và phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là sự   nghiệp của nhân dân hai nước.
 
  Trải qua rất nhiều gian nan, thử thách khắc nghiệt, quan hệ đó vẫn vẹn   nguyên, không hề bị rạn nứt và phá vỡ cho dù các thế lực thù địch dùng nhiều   thủ đoạn chống phá, chia rẽ. Tính đặc biệt của quan hệ Việt Nam – Lào, Lào -   Việt Nam được tạo dựng trên nền tảng quan điểm, nguyên tắc, phương pháp và cơ   chế phù hợp với điều kiện cụ thể của hai dân tộc Việt Nam - Lào. Bản chất của   quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam được nuôi dưỡng, phát triển   bằng sức cảm hóa sâu sắc của quan điểm “giúp bạn là tự giúp mình” như lời dạy   của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 
  50 năm qua, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào -Việt Nam là nguồn sức   mạnh vô tận của cách mạng Việt Nam, Lào, là di sản văn hóa của hai dân tộc,   đưa cách mạng Việt Nam, Lào đi tới nhiều kỳ tích lịch sử. Lãnh đạo hai Đảng,   hai Nhà nước và các bộ, ngành, đoàn thể quần chúng và nhân dân hai nước đã   thường xuyên gặp gỡ, trao đổi, tạo ra một truyền thống quý báu, làm sâu sắc   và củng cố vững chắc sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa lãnh đạo và nhân   dân hai nước. Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế ngày càng phong phú, đa dạng   trên cơ sở đi vào trọng tâm, trọng điểm và tăng trưởng không ngừng.
 
  Sự tăng trưởng kim ngạch buôn bán hai chiều là kết quả của những nỗ lực không   ngừng của hai bên trong việc thực hiện những ưu tiên, ưu đãi trong hợp tác   kinh tế, thương mại đã được ghi trong Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác cũng như   trong những thỏa thuận cấp cao hai nước. Về đầu tư, Việt Nam đã có nhiều dự   án đầu tư tại Lào với số vốn ngày càng tăng, là nước đứng thứ hai trong số   những nước đầu tư vào Lào. Đầu tư của hai bên đã tập trung vào các lĩnh vực   trọng điểm như điện lực, lâm nghiệp, khảo sát và khai khoáng, giao thông vận   tải, trồng cây công nghiệp. Các chính sách ưu tiên, ưu đãi và hiệu quả đầu tư   giữa hai nước đang mở ra thời kỳ hợp tác đầy triển vọng tốt đẹp đối với sự   phát triển kinh tế, thương mại giữa hai nước. Về văn hóa, thông tin, truyền   hình, nghệ thuật, thể thao, y tế và đặc biệt về giáo dục-đào tạo được quan   tâm và không ngừng phát triển. Hàng năm, hai bên đã trao đổi hàng trăm học   sinh, thực tập sinh, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, đáp ứng yêu cầu đào tạo   nguồn nhân lực trong công cuộc đổi mới. Hợp tác về quốc phòng - an ninh cũng   được coi trọng và là nhân tố bảo đảm cho sự bình yên của mỗi nước. Những   thành tựu hợp tác trên phản ánh sâu sắc sự quan tâm của hai Đảng, hai Nhà   nước và nỗ lực chung của nhân dân hai nước.
 
  Để tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào lên tầm   cao mới cần bổ sung và điều chỉnh cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức   chỉ đạo hợp tác cho phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới của sự hợp tác   toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế   và khu vực hiện nay và những năm tới, càng cần phải đẩy nhanh việc điều chỉnh   kịp thời, linh hoạt các nội dung đã thỏa thuận bằng các văn bản hợp tác nhằm   tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị hợp tác thực hiện có hiệu quả những mục   tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra.
 
  Trên cơ sở những kết quả to lớn của sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào những   năm qua, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước thống nhất đặt ưu tiên cao   nhất cùng phấn đấu nâng quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam lên   tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả, góp phần giữ vững ổn   định an ninh chính trị, tăng trưởng kinh tế bền vững, hội nhập ngày càng sâu   rộng và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Tiếp tục củng cố, tăng cường   sự gắn bó, tin cậy và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trong những vấn đề có   tính chiến lược giữa hai Đảng, hai nước; duy trì các cuộc gặp cấp cao truyền   thống. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú, hiệu   quả và thiết thực về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc   biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào cho toàn thể cán bộ, đảng viên và   nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
 
                                                 NGUYỄN TRÍ ÁNH

 

 

Góp phần vun đắp quan hệ đặc biệt Việt Nam-   Lào, Lào- Việt Nam ngày càng phát triển bền vững
 
 
 

(QT) - Một trong những hoạt động quan trọng   của “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào 2012” nhân kỷ niệm 50 năm ngày thiết   lập quan hệ ngoại giao 5/9 (1962 - 2012) và 35 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị   hợp tác giữa hai nước Việt Nam-Lào 18/7 (1977 - 2012) đó chính là cuộc thi “Tìm   hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam”. Chỉ đạo, triển   khai để hưởng ứng có kết quả cao cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt   Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam” sẽ góp phần vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt   Nam-Lào, Lào - Việt Nam ngày càng phát triển bền vững.
 

  Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam -   Lào, Lào – Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự   gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc.   Mối quan hệ này, bắt nguồn từ sự tương đồng về điều kiện tự nhiên, nhân tố   dân cư, xã hội, văn hoá và lịch sử và truyền thống chống giặc ngoại xâm của   nhân dân hai nước. Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào- Việt Nam phát triển   từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính   Người cùng đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh   đạo hai đảng, hai nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp; đặt dưới sự   lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng   Cộng sản Việt Nam. 


  Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết mối quan hệ đặc biệt vĩ đại này   trong 4 câu thơ bất hủ: “Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội,   mấy đèo cũng qua/ Việt - Lào, hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu   Long”. Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: “Trong lịch sử cách mạng   thế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng   chưa ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt,   lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt Nam”; “Núi có thể mòn, sông có   thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông”.
 
  Cùng với cả nước, mối quan hệ giữa tỉnh Quảng Trị với hai tỉnh Savannakhet,   Salavan của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào cũng không ngoài truyền thống   quý báu đó.
 
  Quảng Trị có 206 km đường biên giới giáp với 2 tỉnh bạn Savanannakhet và   Salavan. Đặc biệt, Quảng Trị và Savannakhet đều có đường 9- xuyên Á đi qua.   Từ xa xưa, các bộ tộc Lào và dân tộc Bru-Vân Kiều tỉnh Quảng Trị sinh sống ở   hai bên triền núi dãy Trường Sơn, đã có nhiều nét tương đồng về phong tục tập   quán, tiếng nói và thường xuyên qua lại làm ăn, trao đổi, buôn bán, thăm   viếng lẫn nhau, chung lòng, chung sức đánh kẻ thù.
 
  Trong gian khổ, hy sinh càng làm cho tình đoàn kết chiến đấu giữa Quảng Trị   và hai tỉnh bạn Lào càng keo sơn, gắn bó. Với tinh thần “hạt muối cắn đôi,   cọng rau bẻ nửa”, quân dân Quảng Trị cùng bạn chiến đấu anh dũng, kiên cường,   góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
 
  Về phía bạn, bằng tấm lòng chân thật, ngay thẳng, thủy chung, trong sáng,   đảng bộ và nhân dân hai tỉnh đã cưu mang, giúp đỡ Quảng Trị lúc khó khăn,   hiểm nguy nhất. Biên giới bạn phía tây trở thành căn cứ cho bộ đội, cán bộ,   nhân dân Quảng Trị bảo toàn và phát triển lực lượng. Tỉnh ủy Quảng Trị lúc   nguy nan cũng tạm lánh qua Lào, rồi từ đó đề ra những quyết sách quan trọng,   làm biến chuyển tình thế cách mạng tại địa phương.
 
  Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, nhất là từ khi tỉnh nhà lập lại,   mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Quảng Trị vẫn không ngừng tăng cường sự hợp   tác, giúp đỡ hai tỉnh bạn trên nhiều lĩnh vực; đã cùng hợp tác với bạn đầu tư   xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, trường học, bệnh viện; đào tạo nhân   lực trên lĩnh vực giáo dục, y tế; cung cấp con giống, cây trồng, đầu tư khoa   học kỹ thuật.
 
  Cùng chung tuyến hành lang kinh tế Đông-Tây, hai bên hợp tác xây dựng, nâng   cấp cửa khẩu quốc tế, mở rộng giao thương, buôn bán. Trên nhiều cấp độ, Quảng   Trị đã có những hoạt động trao đổi kinh nghiệm, lý luận và thực tiễn với hai   tỉnh bạn, góp phần vào quá trình xây dựng và phát triển lý luận về con đường   đi lên chủ nghĩa xã hội của mỗi nước.
 
  Hai tỉnh bạn cũng tạo điều kiện, giúp đỡ Quảng Trị trong việc tìm kiếm, cất   bốc hài cốt liệt sĩ. Nhân dân ba tỉnh ngày càng thắt chặt mối quan hệ, qua   lại làm ăn, thăm viếng, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, khó khăn, cùng đấu tranh   giữ vững an ninh biên giới. Trải qua bao thử thách khắc nghiệt, tình đoàn kết   hữu nghị đặc biệt của hai nước, hai dân tộc Việt-Lào nói chung, giữa Quảng   Trị với Savannakhet và Salavan nói riêng càng được vun đắp, ngời sáng.
 
  Cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam” do   Ban Tuyên giáo Trung ương phát động nằm trong chuỗi hoạt động của “Năm đoàn   kết hữu nghị Việt Nam- Lào 2012” lấy từ chất liệu của mối quan hệ đặc biệt   Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam.
 
  Không như thông lệ một số cuộc thi, “đề thi” lần này không yêu cầu người thi   trả lời câu hỏi với những sự kiện, con số mà từ những chủ đề hết sức gần gũi   trong cuộc sống, trong mối quan hệ hữu nghị láng giềng, gắn bó keo sơn, thân   thuộc, nghĩa tình cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn, để rồi từ trong tâm khảm   của mình viết lên điều gan ruột, sâu nặng.
 
  Cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào,   Lào-Việt Nam”   chỉ mới bắt đầu. Tin rằng, với kinh nghiệm và kết quả tốt đẹp của những cuộc   thi trước, với tình cảm đặc biệt với bạn Lào và trách nhiệm của một công dân   trong việc vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào -Việt Nam, chúng ta   sẽ có nhiều bài dự thi tâm huyết, sâu nặng như quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào   vốn có, góp phần vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam   ngày càng phát triển bền vững.
 
                                                      NGUYỄN TRÍ ÁNH

 

 

Những nhân tố hình thành, quyết định mối   quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào- Việt Nam
 
 
 

(QT) - Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào,   Lào – Việt Nam bắt nguồn từ các điều kiện tự nhiên, nhân tố dân cư, xã hội,   văn hoá, lịch sử và truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước   nhưng người đặt nền móng, quyết định mối quan hệ đặc biệt này chính là lãnh   tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.
 

  Về các điều kiện tự nhiên, Việt Nam và Lào đều nằm ở trung tâm   bán đảo Ấn-Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa. Dãy Trường Sơn có thể ví như   cột sống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt Nam và Lào.
 
  Với địa hình tự nhiên này, về đường bộ cả ViệtNam và Lào đều theo trục Bắc-Nam.   Còn về đường biển, Lào chỉ có thể thông thương qua một số tỉnh miền Trung   ViệtNam.   Với điều kiện tự nhiên như thế, ViệtNam và Lào vừa có nhiều điểm   tương đồng nhưng cũng có những nét khác biệt. 

 


  Tuy nhiên, trong hoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, để hợp   tác cùng phát triển, hai nước hoàn toàn có thể bổ sung cho nhau bằng tiềm   năng, thế mạnh của mỗi nước về vị trí địa lý, tài nguyên, nguồn nhân lực, thị   trường cũng như sự phân vùng kinh tế và phân công lao động hợp lý.
 
  Ngoài ra, Việt Nam và Lào là những nước loại “vừa” và “tương đối nhỏ” sống   cạnh nhau, lại nằm kề con đường giao thông hàng hải hàng đầu thế giới, nối   liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương cho nên chiếm   vị trí địa- chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á.
 
  Mặt khác, bờ biển Việt Nam tương đối dài nên việc bố trí chiến lược gặp không   ít khó khăn. Trong khi đó, dãy Trường Sơn, biên giới tự nhiên giữa Việt Nam   và Lào, được ví như bức tường thành hiểm yếu để hai nước tựa lưng vào nhau,   phối hợp giúp đỡ lẫn nhau tạo ra thế chiến lược khống chế những địa bàn then   chốt về kinh tế và quốc phòng, trở thành điểm tựa vững chắc cho Việt Nam và   Lào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
 
  Về các nhân tố dân cư, xã hội, Việt Nam và Lào đều là những quốc gia   đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc   gia của hai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc   người ở khu vực Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng. Đặc điểm   này đã chi phối mạnh mẽ các mối quan hệ khác trên đường biên giới quốc gia   Việt Nam-Lào.
 
  Chính quá trình cộng cư, hoặc sinh sống xen cài của những cư dân Việt Nam và   cư dân Lào trên địa bàn biên giới của hai nước đã dẫn đến việc cùng khai thác   và chia sẻ nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nguồn lợi sinh thủy. Điều này,   thêm một lần nữa khẳng định các quan hệ cội nguồn và quan hệ tiếp xúc chính   là những điều kiện lịch sử và xã hội đầu tiên, tạo ra những mối dây liên hệ   và sự giao thoa văn hoá nhiều tầng nấc giữa cư dân hai nước.
 
  Về nhân tố văn hoá và lịch sử, do quan hệ gần gũi và lâu đời nên nhân dân hai   nước Việt-Lào, đặc biệt là người dân ở vùng biên giới am hiểu về nhau khá   tường tận và sự giao thương ở đây cũng khá nhộn nhịp. Trong quan hệ giao   thương với Đại Việt, Lào Lạn Xạng đã không ít lần bộc lộ mối quan tâm của   mình muốn hướng ra biển, trong khi Đại Việt lại tìm cơ hội để mở rộng buôn   bán vào sâu lục địa.
 
  Sự hài hoà giữa tình cảm nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắc   của triết lý nhân sinh người Việt cũng như người Lào. Chính trong cuộc sống   chan hoà này, nhân dân hai nước Việt Nam- Lào đã ngày càng hiểu nhau và bày   tỏ những tình cảm rất đổi chân thành với nhau.
 
  Về nhân tố lịch sử, theo các thư tịch cổ nổi tiếng của Việt Nam thì mối quan   hệ Việt-Lào bắt đầu từ những năm 550 dưới thời Vạn Xuân của nhà tiền Lý. Tiếp   đến vào giữa thế kỷ XIV (năm 1353) những quy ước hoà bình đầu tiên về biên   giới quốc gia đã được xác lập giữa Đại Việt và Lạn Xạng.
 
  Ngoài ra, trong suốt quá trình của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418- 1427),   nghĩa quân Lê Lợi cũng luôn nhận được sự tiếp sức của các tộc trưởng và nhân   dân Lào ở vùng biên giới. Điều đáng nói là bất chấp hoàn cảnh bất lợi của chế   độ phong kiến ở Đại Việt và Lạn Xạng, quan hệ nương tựa vào nhau giữa nhân   dân hai nước vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng.
 
  Cùng với các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội, văn hoá, lịch sử, truyền   thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, nhất là   trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đã làm cho mối quan hệ Việt Nam -   Lào, Lào-Việt Nam càng gắn bó keo sơn.
 
  Từ khi Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin để   xác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào theo con đường cách   mạng vô sản, đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Việt Nam và Lào ngày càng   hoà quyện vào nhau, nương tựa lẫn nhau, mở ra một trang mới trong quan hệ   giữa nhân dân hai nước, cùng hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc và   tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa là nhân tố quyết định mối quan hệ đặc   biệt Việt Nam-Lào, Lào- Việt Nam.
 
  Và chính Người đã cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các   thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp   mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng   Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam.
 
  Thực tiễn đã khẳng định rằng, trong quan hệ quốc tế ít có nơi nào và lúc nào   cũng có được mối quan hệ đặc biệt, đoàn kết, hợp tác bền vững lâu dài, trong   sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do   và tiến bộ xã hội như mối quan hệ Việt - Lào.
 
  Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt   giữa Việt Nam – Lào, Lào -   Việt Nam   cùng với những cơ hội vẫn còn không ít thách thức. Vì vậy, việc duy trì, củng   cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt trong sáng, thuỷ chung giữa hai Đảng,   hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam – Lào là nhiệm vụ hết sức quan   trọng của Đảng, chính quyền và nhân dân hai nước Việt Nam- Lào, Lào-Việt Nam.  
 
                                           NGUYỄN TRÍ ÁNH

 

 

 


Nhắn tin cho tác giả
Bùi Ngọc Sơn @ 20:43 17/09/2012
Số lượt xem: 228
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến