âm nhạc
Chào mừng quý vị đến với website của bùi ngọc sơn
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tư liệu tìm hiểu mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào
|
Ấn tượng về đất nước Lào tươi đẹp |
|
(QT) - Nước Lào, trước đây còn gọi là Vương quốc Lạn Xạng, “Lạn” tiếng Lào là triệu, “Xạng” là voi. Lạn Xạng có nghĩa là Triệu Voi. Được mệnh danh là Miền đất Triệu Voi- Lào nằm ở nơi giao hội của hai nền văn minh vĩ đại và hùng mạnh nhất châu Á là Ấn Độ và Trung Hoa, người dân Lào đã hấp thụ những phong tục và tín ngưỡng của hai nền văn minh ấy để hình thành nên một nền văn hóa đặc sắc của riêng mình hết sức độc đáo. Lào là đất nước bốn mùa lễ hội. Cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á, lễ hội tại đất nước Lào cũng chia làm 2 phần, phần lễ và phần hội. Phần lễ là phần nghi thức do chính con người đặt ra để giao cảm với thần linh và phần hội chủ yếu là vui chơi, giải trí. Lào có tết cổ truyền Bunpimay (có nghĩa là mừng năm mới), hay còn gọi là Tết Té nước diễn ra từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 4 hàng năm. Vì đạo Phật ở Lào có từ lâu đời, phát triển mạnh trở thành quốc đạo, các nhà chiêm tinh học tính ngày tháng theo phật lịch, nên năm mới hàng năm bắt đầu vào tháng tư dương lịch. Người Lào gọi tết là vui tết chứ không gọi là ăn tết, tất cả các cuộc vui được chuẩn bị theo truyền thống tôn giáo, phù hợp với phong tục tập quán của người Lào. Trong những ngày lễ hội, vui chơi là chủ yếu, tuy nhiên họ cũng chuẩn bị đồ ăn, thức uống thịnh soạn hơn ngày thường, đặc biệt là không thể thiếu rượu. Ngày tết từ sáng sớm dân làng diện những bộ đồ đẹp nhất, với màu sắc sặc sỡ, tập trung tại sân chùa để dự lễ tắm Phật. Xong lễ tắm Phật, mọi nhà làm lễ buộc cổ chỉ tay cho những người thân trong nhà, tục lễ này gọi là pục khén hay còn gọi là xù khoắn, lễ gọi hồn vía. Nhân dịp đầu năm con cháu chúc ông bà, cha mẹ, bạn bè, người thân gặp may mắn hạnh phúc. Cũng vì lẽ đó, lễ mừng năm mới còn gọi lễ té nước (gọi là bun hốt nậm), trong những ngày lễ, thanh niên nam, nữ thường té nước cho nhau vừa chúc mừng nhưng cũng vừa để tỏ tình. Bun hốt nậm còn có ý nghĩa về chuyện chuyển năm và cũng là chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa; sau những tháng ngày hanh khô, những cơn mưa rào ập đến mang nước mát tưới cho núi rừng, cỏ cây, ruộng đồng, màu xanh tươi mát của chồi non vụt nhú lên báo hiệu một mùa làm ruộng, rẫy mới. Người dân té nước để cầu may, cầu bình yên cho cả năm, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt. Trong những ngày này, mọi người thăm viếng chúc tụng lẫn nhau, ăn uống, vui chơi, múa hát cầu mong quốc thái dân an, nhà nhà hạnh phúc, người người ấm no… Với người Lào, những phong tục trong lễ hội Bunpimay mang ý nghĩa đem lại sự mát mẻ, phồn vinh cho vạn vật, ấm no, hạnh phúc cho cuộc sống, là dịp để nuôi dưỡng và hun đúc nghệ thuật dân tộc. Chăm pa (hoa đại) là một loài hoa biểu tượng của đất nước và con người Lào. Mang đậm một bản sắc riêng biệt, hương sắc ngào ngạt của hoa chăm pa phản ánh rõ tính cách, tâm hồn của dân tộc Lào, với những con người có một vẻ đẹp giản dị, chan hoà và chất phác, thật thà. Người dân Lào thường trồng hoa chăm pa để tô điểm cho vẻ đẹp thanh bình êm ả của đất nước và sống động hơn trong không khí hội hè. Đến với đất nước Lào là đến thăm đất nước hoa chăm pa xinh đẹp. Hạnh phúc biết bao khi được các cô gái choàng lên cổ vòng hoa chăm pa, buộc vào cổ tay vòng chỉ cầu mong phúc lành, say sưa không muốn dứt trong những điệu múa lăm vông dưới bóng cây chăm pa. Văn hoá Lào như một dòng chảy ngọt ngào đời này qua đời khác, hun đúc nên tâm hồn, cốt cách và văn hoá của người Lào. Qua thời gian, được kết tinh ở những phong tục văn hoá đẹp đẽ như Tết Té nước để giải trừ mọi lo âu phiền muộn; buộc chỉ cổ tay chúc phúc người thân, chúc phúc khách quý, bạn bè... đó là mỹ tục độc đáo và hiếm có. Và hoà cùng với tiếng chiêng, tiếng khèn, điệu lăm vông mềm mại uyển chuyển làm say đắm lòng người, như mời gọi, như níu giữ bước chân du khách đã đặt chân đến đất nước Lào là không muốn rời xa. Đất nước Lào có nhiều công trình lịch sử văn hoá, có thiên nhiên tươi đẹp, có nhiều cảnh quan kỳ thú như Thạt Luổng (Viêng Chăn), cố đô Luông Phra-băng (di sản văn hoá thế giới), chùa Vạtxixun, núi Phú Xỉ, Cánh Đồng Chum huyền bí (Xiêng Khoảng), thác Khôn, thác Quang Xi, Hang Thẳm tình... Đất nước, con người và nền văn hoá Lào là đang mang trong mình nguồn sức mạnh vô biên, ẩn chứa biết bao điều kỳ diệu, đó chính là tiềm năng và là nguồn nội lực to lớn. Tiềm năng và nguồn lực to lớn đó đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào trân trọng, giữ gìn, bồi đắp và phát huy trong thời đại mới, thời đại hội nhập và phát triển. TỪ QUANG HOÁ |
|
Gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam- Lào |
|
(QT) - Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là tài sản chung vô giá của hai dân tộc, là nhân tố bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng của mỗi nước. Để gìn giữ, củng cố và phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây: Hai là, cả hai dân tộc Việt Nam và Lào đều phải quán triệt và thực hiện tốt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Giúp bạn là mình tự giúp mình”. Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam được nuôi dưỡng, phát triển bằng sức cảm hóa sâu sắc của quan điểm “Giúp bạn là mình tự giúp mình” do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn. Đây là câu nói cô đọng, giàu ý nghĩa chính trị, nhân văn, mở ra phương hướng xử lý hài hòa lợi ích của hai dân tộc, là vũ khí sắc bén chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ban ơn. Chúng ta thấy rằng, trong tiến trình cách mạng của hai nước thời gian qua, mỗi bước phát triển của cách mạng Lào tạo hậu thuẫn cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi và ngược lại, thắng lợi của cách mạng Việt Nam tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển. Vì vậy, cần có một nhận thức thống nhất trong cán bộ và nhân dân hai nước về tính chất đặc biệt này. Cả hai bên cần có tầm nhìn rộng hơn, toàn diện và lâu dài hơn chứ không chỉ ở các lợi ích kinh tế thuần túy và ngắn hạn. Ba là, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào phải luôn coi trọng thực hiện nguyên tắc tôn trọng quyền độc lập, tự chủ, bình đẳng và dân chủ của hai bên. Tại cuộc hội đàm với đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân cách mạng Lào, ngày 9/7/1961, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trình bày về nguyên tắc lớn và lề lối làm việc giữa hai Đảng, bao gồm những nội dung: “Mọi công việc ở Lào đều do Đảng Lào phụ trách. Cách mạng Lào do đồng chí Lào lãnh đạo, đường lối, chủ trương do Đảng Lào đề ra. Việt Nam góp ý kiến. Cũng có lúc Việt Nam thấy vấn đề trước thì Việt Nam đề xuất ý kiến trước, nhưng quyền quyết định vẫn do Đảng Lào”. Ở phạm vi quan hệ giữa Đảng Lào với các đảng anh em khác thì “Đảng Lào tự mình bàn bạc thương lượng với các đảng anh em trong mọi vấn đề có liên quan. Trong phạm vi nào đó theo yêu cầu của các đảng anh em và với sự thỏa thuận của Đảng Lào, Việt Nam có thể làm trung gian giúp đỡ” Về quan hệ giữa hai nước, hai Chính phủ, đồng chí Lê Duẩn cho rằng: “Tất nhiên có những quan hệ khác hơn quan hệ hai Đảng. Những vấn đề lớn trong quan hệ giữa hai Chính phủ thì hai Đảng cũng cần có sự trao đổi ý kiến trước với nhau” Về phía Lào, giải thích rõ nguyên tắc độc lập, tự chủ và giá trị của nó, trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc Lào ngày 13/5/1974, Chủ tịch Cayxỏn Phomvihản nói: “Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta phải do nhân dân ta tự làm lấy. Đảng ta là một đảng lãnh đạo cách mạng thực sự, do đó phải giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ thì mới chứng minh một cách đầy đủ chủ nghĩa yêu nước nồng nàn kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng”. Trên cơ sở nhận thức quá trình toàn cầu hóa và sự hội nhập giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á, Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VIII Đảng Nhân dân cách mạng Lào (tháng 3/2006) nêu rõ: “Kiên định quan điểm chủ động và thái độ tích cực trong hội nhập quốc tế và khu vực bằng việc phát huy cao độ sức mạnh của dân tộc và tiềm năng của đất nước. Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước nhằm đảm bảo lợi ích chung và lợi ích riêng của mỗi bên”. Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển.” Tiếp tục tinh thần và nguyên tắc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào chủ trương đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào phải trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và ý chí tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi. Thực hiện tốt 4 nguyên tắc mà Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương diễn ra tại thủ đô Viên Chăn từ ngày 22 đến ngày 23/2/1983 đã thống nhất, trong đó chú ý đến vấn đề: Quan hệ giữa ba nước sẽ được giải quyết bằng thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Bốn là, để việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam- Lào ngày càng tốt đẹp, hai Đảng, hai Nhà Nước cần thường xuyên thông báo cho nhau về tình hình mỗi Ðảng, mỗi nước. Thường xuyên trao đổi về các phương hướng, biện pháp không ngừng phát triển quan hệ hai Ðảng, hai nước, cũng như những vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm. Chính phủ hai nước cần tích cực chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Hiệp định hợp tác 5 năm 2011-2015 và Chiến lược hợp tác 10 năm 2011- 2020. Tăng cường quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các địa phương của hai nước, nhất là các địa phương có chung biên giới. Sớm kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban Liên Chính phủ và bộ phận thường trực Phân ban hợp tác Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam. Phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào trong giai đoạn mới. Hợp tác chặt chẽ giữa hai nước trong việc thực hiện chiến lược phát triển. Đẩy mạnh hợp tác về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Trong hoàn cảnh nào hai Đảng và nhân dân hai nước cũng làm hết sức mình để giữ gìn và vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững, truyền mãi cho các thế hệ mai sau. NGUYỄN VŨ QUYỀN |
|
Những thành tựu quan trọng trong quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam |
|
(QT) - Kể từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2/1930 và sau đó đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10/1930), mối quan hệ truyền thống, lâu đời của hai dân tộc Việt Nam- Lào được nâng lên thành quan hệ đặc biệt, không ngừng được hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước vun đắp và đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng. Hai dân tộc Việt Nam, Lào vừa giành được quyền độc lập, đã phải đối phó ngay với thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Bên cạnh mở rộng mặt trận ngoại giao, liên minh với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới, đặc biệt với các nước lân cận để củng cố công cuộc cách mạng của mình, việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt đầu tiên cho nhiệm vụ tăng cường quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trở nên cấp bách. Việt Nam tận tình giúp Lào đào tạo cán bộ, truyền bá kinh nghiệm vận động quần chúng, giúp đỡ bạn xây dựng cơ sở chính trị, lực lượng vũ trang tuyên truyền, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành các khu kháng chiến, từng bước đưa phong trào cách mạng Lào phát triển. Cuối tháng 4 đến giữa tháng 5/1953, liên quân chiến đấu Việt Nam - Lào mở chiến dịch Thượng Lào giành thắng lợi lớn, giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và Phôngxalỳ, mở rộng căn cứ địa cách mạng Lào. Đối với Việt Nam, chiến dịch Thượng Lào đã góp phần phân tán lực lượng địch, phá tan âm mưu củng cố vùng Tây Bắc và bình định vùng đồng bằng Bắc bộ của Pháp. Tiếp đó, từ tháng 12/1953 đến tháng 5/1954, liên quân chiến đấu Việt Nam- Lào mở chiến dịch Trung- Hạ Lào. Thắng lợi của chiến dịch buộc Nava phải tiếp tục phân tán khối cơ động chiến lược của chúng, góp phần làm giảm khối chủ lực của địch trên chiến trường chính Bắc bộ, nhất là đối với hướng chính Điện Biên Phủ. Khi quân và dân ta tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, quân và dân Lào đã anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chi viện chiến lược của địch cho Điện Biên Phủ, góp phần cô lập địch ở đây, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Việt Nam giành thế chủ động tiến công địch, giành thắng lợi hoàn toàn. 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một chặng đường kế tục, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đã trở thành giá trị thiêng liêng của hai dân tộc. Hoạt động phối hợp đấu tranh của các cơ quan lãnh đạo cùng quân và dân Việt Nam, Lào đều xuất phát từ tình cảm sâu đậm, trách nhiệm cao cả của hai phía Việt Nam, Lào dành cho nhau, tạo nên những nguồn lực mới, những nấc thang phát triển mới của nội lực từng dân tộc, của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung và mở đường đi tới toàn thắng. Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Lào luôn hết lòng giúp đỡ, ủng hộ nhân dân Việt Nam. Đáp lại, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam cũng dốc hết sức vì sự nghiệp cách mạng Lào. Trên tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã có mặt ở hầu hết mọi nơi trên chiến trường Lào, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh, cùng nhân dân và quân đội Lào đấu tranh, đánh địch đến thắng lợi hoàn toàn. Sau khi hai dân tộc kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, vào ngày 18/7/1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã được ký hết, là sự kiện mở đầu cho quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn cách mạng mới. Đây là văn kiện mang tính chính trị, pháp lý cơ bản, bền vững lâu dài trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng. Hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên trao đổi ý kiến về vấn đề lý luận và chỉ đạo thực tiễn sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Lào, khơi dậy nội lực và mở rộng quan hệ quốc tế, đem lại sự đổi mới toàn diện cho mỗi nước. Cùng với những hoạt động bảo vệ an ninh chính trị, chủ quyền quốc gia, hai bên còn phối hợp chặt chẽ trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giúp đỡ nhau về hậu cần kỹ thuật, đặc biệt là việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trên đất Lào. Trên lĩnh vực kinh tế, hai bên chấp hành nguyên tắc hợp tác là bình đẳng, tôn trọng chủ quyền quốc gia, cùng có lợi và hết lòng giúp đỡ nhau; đồng thời, căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi nước mà dành ưu tiên, ưu đãi cho nhau. Điểm đặc biệt nổi bật trong quan hệ hợp tác kinh tế Lào - Việt Nam là tinh thần giúp đỡ nhau mỗi khi nước bạn gặp khó khăn mà không thể tự giải quyết được. Trong hợp tác phát triển văn hóa thì lĩnh vực giáo dục, đào tạo cán bộ được đặt ở tầm chiến lược, tác động trực tiếp tới sự phát triển của quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc, được mở đầu từ thập niên 1950. Từ đó đến suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng vạn học sinh Lào được học tập tại Việt Nam từ cấp tiểu học đến THPT. Việt Nam còn gửi chuyên gia sang Lào giúp bạn xây dựng một nền giáo dục mới theo yêu cầu của bạn. Từ sau năm 1975, Việt Nam giúp bạn đào tạo cán bộ đạt trình độ đại học và trên đại học. Theo đó, hàng năm có hơn 1.000 cán bộ, sinh viên Lào được bồi dưỡng, học tập tại nhiều học viện, trường đại học Việt Nam. Về phía Việt Nam, hàng năm có từ 15-20 lưu học sinh sang học tại Đại học Quốc gia Lào. Đi đôi với mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước, các bộ, ngành trung ương, còn có mối quan hệ kết nghĩa giữa toàn bộ các tỉnh có chung đường biên giới cũng như các tỉnh không có chung biên giới giữa hai nước với nhau. Các địa phương đã phối hợp chặt chẽ về trao đổi đoàn tham quan, cùng giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cũng như cùng tháo gỡ những khó khăn giữa hai nước. Các Hội hữu nghị Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam tại Lào đã có nhiều đóng góp đáng kể trong vai trò làm cầu nối quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. LÊ THỊ HỒNG |
|
Không ngừng phát huy tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt Nam- Lào |
|
(QT) - Ngày 5/9/1962, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Vương quốc Lào đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Tháng 12/1975, cách mạng Lào thành công, nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào được thành lập. Ngày 18/7/1977, Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam-Lào đã được ký kết. Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước dày công vun đắp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản chất của quan hệ đặc biệt đó bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, tình đoàn kết thủy chung và niềm tin về lòng chân thành, trong sáng mà hai dân tộc Việt Nam, Lào dành cho nhau; sự giúp đỡ đến mức cao nhất nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển tương lai của hai dân tộc. Mối quan hệ đặc biệt này mang tính xuyên suốt, toàn diện và bền vững. Xây dựng, bảo vệ và phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là sự nghiệp của nhân dân hai nước. Trải qua rất nhiều gian nan, thử thách khắc nghiệt, quan hệ đó vẫn vẹn nguyên, không hề bị rạn nứt và phá vỡ cho dù các thế lực thù địch dùng nhiều thủ đoạn chống phá, chia rẽ. Tính đặc biệt của quan hệ Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam được tạo dựng trên nền tảng quan điểm, nguyên tắc, phương pháp và cơ chế phù hợp với điều kiện cụ thể của hai dân tộc Việt Nam - Lào. Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam được nuôi dưỡng, phát triển bằng sức cảm hóa sâu sắc của quan điểm “giúp bạn là tự giúp mình” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 50 năm qua, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào -Việt Nam là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng Việt Nam, Lào, là di sản văn hóa của hai dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam, Lào đi tới nhiều kỳ tích lịch sử. Lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước và các bộ, ngành, đoàn thể quần chúng và nhân dân hai nước đã thường xuyên gặp gỡ, trao đổi, tạo ra một truyền thống quý báu, làm sâu sắc và củng cố vững chắc sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa lãnh đạo và nhân dân hai nước. Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế ngày càng phong phú, đa dạng trên cơ sở đi vào trọng tâm, trọng điểm và tăng trưởng không ngừng. Sự tăng trưởng kim ngạch buôn bán hai chiều là kết quả của những nỗ lực không ngừng của hai bên trong việc thực hiện những ưu tiên, ưu đãi trong hợp tác kinh tế, thương mại đã được ghi trong Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác cũng như trong những thỏa thuận cấp cao hai nước. Về đầu tư, Việt Nam đã có nhiều dự án đầu tư tại Lào với số vốn ngày càng tăng, là nước đứng thứ hai trong số những nước đầu tư vào Lào. Đầu tư của hai bên đã tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như điện lực, lâm nghiệp, khảo sát và khai khoáng, giao thông vận tải, trồng cây công nghiệp. Các chính sách ưu tiên, ưu đãi và hiệu quả đầu tư giữa hai nước đang mở ra thời kỳ hợp tác đầy triển vọng tốt đẹp đối với sự phát triển kinh tế, thương mại giữa hai nước. Về văn hóa, thông tin, truyền hình, nghệ thuật, thể thao, y tế và đặc biệt về giáo dục-đào tạo được quan tâm và không ngừng phát triển. Hàng năm, hai bên đã trao đổi hàng trăm học sinh, thực tập sinh, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong công cuộc đổi mới. Hợp tác về quốc phòng - an ninh cũng được coi trọng và là nhân tố bảo đảm cho sự bình yên của mỗi nước. Những thành tựu hợp tác trên phản ánh sâu sắc sự quan tâm của hai Đảng, hai Nhà nước và nỗ lực chung của nhân dân hai nước. Để tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào lên tầm cao mới cần bổ sung và điều chỉnh cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức chỉ đạo hợp tác cho phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới của sự hợp tác toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, càng cần phải đẩy nhanh việc điều chỉnh kịp thời, linh hoạt các nội dung đã thỏa thuận bằng các văn bản hợp tác nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị hợp tác thực hiện có hiệu quả những mục tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra. Trên cơ sở những kết quả to lớn của sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào những năm qua, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước thống nhất đặt ưu tiên cao nhất cùng phấn đấu nâng quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam lên tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, tăng trưởng kinh tế bền vững, hội nhập ngày càng sâu rộng và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Tiếp tục củng cố, tăng cường sự gắn bó, tin cậy và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trong những vấn đề có tính chiến lược giữa hai Đảng, hai nước; duy trì các cuộc gặp cấp cao truyền thống. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú, hiệu quả và thiết thực về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. NGUYỄN TRÍ ÁNH |
|
Không ngừng phát huy tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt Nam- Lào |
|
(QT) - Ngày 5/9/1962, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Vương quốc Lào đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Tháng 12/1975, cách mạng Lào thành công, nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào được thành lập. Ngày 18/7/1977, Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam-Lào đã được ký kết. Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước dày công vun đắp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản chất của quan hệ đặc biệt đó bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, tình đoàn kết thủy chung và niềm tin về lòng chân thành, trong sáng mà hai dân tộc Việt Nam, Lào dành cho nhau; sự giúp đỡ đến mức cao nhất nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển tương lai của hai dân tộc. Mối quan hệ đặc biệt này mang tính xuyên suốt, toàn diện và bền vững. Xây dựng, bảo vệ và phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là sự nghiệp của nhân dân hai nước. Trải qua rất nhiều gian nan, thử thách khắc nghiệt, quan hệ đó vẫn vẹn nguyên, không hề bị rạn nứt và phá vỡ cho dù các thế lực thù địch dùng nhiều thủ đoạn chống phá, chia rẽ. Tính đặc biệt của quan hệ Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam được tạo dựng trên nền tảng quan điểm, nguyên tắc, phương pháp và cơ chế phù hợp với điều kiện cụ thể của hai dân tộc Việt Nam - Lào. Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam được nuôi dưỡng, phát triển bằng sức cảm hóa sâu sắc của quan điểm “giúp bạn là tự giúp mình” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 50 năm qua, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào -Việt Nam là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng Việt Nam, Lào, là di sản văn hóa của hai dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam, Lào đi tới nhiều kỳ tích lịch sử. Lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước và các bộ, ngành, đoàn thể quần chúng và nhân dân hai nước đã thường xuyên gặp gỡ, trao đổi, tạo ra một truyền thống quý báu, làm sâu sắc và củng cố vững chắc sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa lãnh đạo và nhân dân hai nước. Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế ngày càng phong phú, đa dạng trên cơ sở đi vào trọng tâm, trọng điểm và tăng trưởng không ngừng. Sự tăng trưởng kim ngạch buôn bán hai chiều là kết quả của những nỗ lực không ngừng của hai bên trong việc thực hiện những ưu tiên, ưu đãi trong hợp tác kinh tế, thương mại đã được ghi trong Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác cũng như trong những thỏa thuận cấp cao hai nước. Về đầu tư, Việt Nam đã có nhiều dự án đầu tư tại Lào với số vốn ngày càng tăng, là nước đứng thứ hai trong số những nước đầu tư vào Lào. Đầu tư của hai bên đã tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như điện lực, lâm nghiệp, khảo sát và khai khoáng, giao thông vận tải, trồng cây công nghiệp. Các chính sách ưu tiên, ưu đãi và hiệu quả đầu tư giữa hai nước đang mở ra thời kỳ hợp tác đầy triển vọng tốt đẹp đối với sự phát triển kinh tế, thương mại giữa hai nước. Về văn hóa, thông tin, truyền hình, nghệ thuật, thể thao, y tế và đặc biệt về giáo dục-đào tạo được quan tâm và không ngừng phát triển. Hàng năm, hai bên đã trao đổi hàng trăm học sinh, thực tập sinh, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong công cuộc đổi mới. Hợp tác về quốc phòng - an ninh cũng được coi trọng và là nhân tố bảo đảm cho sự bình yên của mỗi nước. Những thành tựu hợp tác trên phản ánh sâu sắc sự quan tâm của hai Đảng, hai Nhà nước và nỗ lực chung của nhân dân hai nước. Để tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào lên tầm cao mới cần bổ sung và điều chỉnh cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức chỉ đạo hợp tác cho phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới của sự hợp tác toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, càng cần phải đẩy nhanh việc điều chỉnh kịp thời, linh hoạt các nội dung đã thỏa thuận bằng các văn bản hợp tác nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị hợp tác thực hiện có hiệu quả những mục tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra. Trên cơ sở những kết quả to lớn của sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào những năm qua, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước thống nhất đặt ưu tiên cao nhất cùng phấn đấu nâng quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam lên tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, tăng trưởng kinh tế bền vững, hội nhập ngày càng sâu rộng và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Tiếp tục củng cố, tăng cường sự gắn bó, tin cậy và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trong những vấn đề có tính chiến lược giữa hai Đảng, hai nước; duy trì các cuộc gặp cấp cao truyền thống. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú, hiệu quả và thiết thực về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. NGUYỄN TRÍ ÁNH |
|
Góp phần vun đắp quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam ngày càng phát triển bền vững |
|
(QT) - Một trong những hoạt động quan trọng của “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào 2012” nhân kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao 5/9 (1962 - 2012) và 35 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác giữa hai nước Việt Nam-Lào 18/7 (1977 - 2012) đó chính là cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam”. Chỉ đạo, triển khai để hưởng ứng có kết quả cao cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam” sẽ góp phần vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam ngày càng phát triển bền vững. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết mối quan hệ đặc biệt vĩ đại này trong 4 câu thơ bất hủ: “Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/ Việt - Lào, hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”. Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: “Trong lịch sử cách mạng thế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt Nam”; “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông”. Cùng với cả nước, mối quan hệ giữa tỉnh Quảng Trị với hai tỉnh Savannakhet, Salavan của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào cũng không ngoài truyền thống quý báu đó. Quảng Trị có 206 km đường biên giới giáp với 2 tỉnh bạn Savanannakhet và Salavan. Đặc biệt, Quảng Trị và Savannakhet đều có đường 9- xuyên Á đi qua. Từ xa xưa, các bộ tộc Lào và dân tộc Bru-Vân Kiều tỉnh Quảng Trị sinh sống ở hai bên triền núi dãy Trường Sơn, đã có nhiều nét tương đồng về phong tục tập quán, tiếng nói và thường xuyên qua lại làm ăn, trao đổi, buôn bán, thăm viếng lẫn nhau, chung lòng, chung sức đánh kẻ thù. Trong gian khổ, hy sinh càng làm cho tình đoàn kết chiến đấu giữa Quảng Trị và hai tỉnh bạn Lào càng keo sơn, gắn bó. Với tinh thần “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”, quân dân Quảng Trị cùng bạn chiến đấu anh dũng, kiên cường, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Về phía bạn, bằng tấm lòng chân thật, ngay thẳng, thủy chung, trong sáng, đảng bộ và nhân dân hai tỉnh đã cưu mang, giúp đỡ Quảng Trị lúc khó khăn, hiểm nguy nhất. Biên giới bạn phía tây trở thành căn cứ cho bộ đội, cán bộ, nhân dân Quảng Trị bảo toàn và phát triển lực lượng. Tỉnh ủy Quảng Trị lúc nguy nan cũng tạm lánh qua Lào, rồi từ đó đề ra những quyết sách quan trọng, làm biến chuyển tình thế cách mạng tại địa phương. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, nhất là từ khi tỉnh nhà lập lại, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Quảng Trị vẫn không ngừng tăng cường sự hợp tác, giúp đỡ hai tỉnh bạn trên nhiều lĩnh vực; đã cùng hợp tác với bạn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, trường học, bệnh viện; đào tạo nhân lực trên lĩnh vực giáo dục, y tế; cung cấp con giống, cây trồng, đầu tư khoa học kỹ thuật. Cùng chung tuyến hành lang kinh tế Đông-Tây, hai bên hợp tác xây dựng, nâng cấp cửa khẩu quốc tế, mở rộng giao thương, buôn bán. Trên nhiều cấp độ, Quảng Trị đã có những hoạt động trao đổi kinh nghiệm, lý luận và thực tiễn với hai tỉnh bạn, góp phần vào quá trình xây dựng và phát triển lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của mỗi nước. Hai tỉnh bạn cũng tạo điều kiện, giúp đỡ Quảng Trị trong việc tìm kiếm, cất bốc hài cốt liệt sĩ. Nhân dân ba tỉnh ngày càng thắt chặt mối quan hệ, qua lại làm ăn, thăm viếng, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, khó khăn, cùng đấu tranh giữ vững an ninh biên giới. Trải qua bao thử thách khắc nghiệt, tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt của hai nước, hai dân tộc Việt-Lào nói chung, giữa Quảng Trị với Savannakhet và Salavan nói riêng càng được vun đắp, ngời sáng. Cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam” do Ban Tuyên giáo Trung ương phát động nằm trong chuỗi hoạt động của “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam- Lào 2012” lấy từ chất liệu của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam. Không như thông lệ một số cuộc thi, “đề thi” lần này không yêu cầu người thi trả lời câu hỏi với những sự kiện, con số mà từ những chủ đề hết sức gần gũi trong cuộc sống, trong mối quan hệ hữu nghị láng giềng, gắn bó keo sơn, thân thuộc, nghĩa tình cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn, để rồi từ trong tâm khảm của mình viết lên điều gan ruột, sâu nặng. Cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam” chỉ mới bắt đầu. Tin rằng, với kinh nghiệm và kết quả tốt đẹp của những cuộc thi trước, với tình cảm đặc biệt với bạn Lào và trách nhiệm của một công dân trong việc vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào -Việt Nam, chúng ta sẽ có nhiều bài dự thi tâm huyết, sâu nặng như quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào vốn có, góp phần vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam ngày càng phát triển bền vững. NGUYỄN TRÍ ÁNH |
|
Những nhân tố hình thành, quyết định mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào- Việt Nam |
|
(QT) - Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam bắt nguồn từ các điều kiện tự nhiên, nhân tố dân cư, xã hội, văn hoá, lịch sử và truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước nhưng người đặt nền móng, quyết định mối quan hệ đặc biệt này chính là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.
|
Bùi Ngọc Sơn @ 20:43 17/09/2012
Số lượt xem: 228
- Cậu bé đánh giầy (17/09/12)
- Phấn đấu đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào lên tầm cao mới (11/09/12)
- Mẹ Đỗ Trung Quân (01/09/12)
- Sẽ bỏ quy định 6 tuổi vào lớp 1 (29/08/12)
- Hai điểm ngược của giáo dục Việt Nam (15/08/12)
Các ý kiến mới nhất