âm nhạc

Chào mừng quý vị đến với website của bùi ngọc sơn

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

GVCN về công tác tư vấn tâm lý cho học sinh

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Ngọc Sơn (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:23' 17-05-2014
Dung lượng: 30.3 KB
Số lượt tải: 21
Số lượt thích: 0 người
CÔNG TÁC TƯ VẤN TÂM LÝ CHO HỌC SINH
Đặc điểm tâm lí của học sinh THPT
Xác định độ tuổi học sinh THPT : lứa tuổi học sinh THPT nằm trong thời kì đầu của tuổi thanh niên hay còn gọi là thanh niên học sinh.
Đặc trung lớn nhất của hoàn cảnh xã hội của sự phát triển ở lứa tuổi học sinh THPT là các mối quan hệ có tính mở và sự chuyển đổi vai trò và vị thế xã hội :
Quan hệ phụ huynh
Quan hệ bạn bè
Quan hệ xã hội
Ở lứa tuổi học sinh THPT, hoạt động học tập có những điểm khác biệt với hoạt động học tập ở lứa tuổi thiếu niên.Giai đoạnnày có sự chưa trùng hợp giữa sự phát triển ca thể và giai đoạn đường đời.
Tuổi đầu thanh niên là tuổi của những người đang lớn nhưng chưa thành người lớn, những nhu cầu nhận nhiều thông tin nhưng chưa phải là người uyên bác, những người ham mê nhưng chưa phải là say mê – đây là đặc điểm lứa tuổi của thanh niên mới lớn.
Học sinh THPT có sự phát triển trí tuệ ở giai đoạn sau thao tác hình thức – loại trí tuệ được coi là ngang bằng với người lớn.
Nhận thức của học sinh THPT có nhiều điểm nổi bậc :
Phạm vi nhận thức : rộng hơn rất nhiều.
Hệ thống các tri thức hiểu biết : rộng hơn, phong phú hơn.
Tính độc lập, sáng tạo thể hiện rõ nét.
Sự phân hóa hứng thú rõ nét và ổn định hơn.
Sự phát triển trí tuệ liên quan chặt chẽ với năng lực sáng tạo.
Sự phát triển nhận thức và trí tuệ không giống nhau ở mỗi cá nhân, đặc biệt tính chất của sự phát triển đó phụ thuộc nhiều vào cách dạy học.
Đời sống tình cảm của học sinh THPT đã đạt tới mức cao với các đặc điểm nỗi bật :
Các cảm xúc có tính phân hóa sâu, có tính tự chủ và được điều chỉnh tốt hơn.
Các tình cảm cấp cao được bộc lộ một cách rõ ràng.
Ở tuổi thanh niên, xu hướng nhân cách, phẩm chất ý chí bộc lộ rõ ràng. Cường độ của ý chí phát triển cao. Tính đạo đức của các hành động ý chí cũng được học sinh ý thức hơn.Một số học sinh có định hướng và mục đích rất rõ, nhưng cũng có những học sinh không đặt ra cho mình các mục đích, không nghĩ tới tương lai, thụ động chờ đợi.
Học sinh THPT có thể tự nhận thức bản thân và hình thành hình ảnh của bản thân ở nhiều phương diện : bên ngoài, bên trong, thân thể hay năng lực, năng lực hay phẩm chất; và nhiều mức độ : đơn giản hay phức tạp, đầy đủ hay phiến diện…
Đánh giá của HS THPT còn mang tính chủ quan và có xu hướng cao hơn hiện thực.
Một số vấn đề tâm lí ở học sinh THPT : Tính dục, căng thẳng tâm lí, lạm dụng chất, chống đối xã hội, tự tử…
Phát dục là quá trình trung tâm của tuổi thiếu niên. Bước vào tuổi thanh niên, đa số học sinh đã trãi qua thời kì dậy thì, học sinh đã có sự trưởng thành. Về phương diện xã hội, sự đồng nhất giới tính thì vẫn tiếp diễn.
Đói với vấn đề tính dục ở THPT có ba mặt cần quan tâm :
+ Hành vi tính dục
+ Cách định hướng và tâm thế tính dục.
+ Các cảm nghiệm và ảo tưởng tính dục.
Thanh niên có thể lạm dụng chất có thể vì các nguyên nhân sau :
+ Muốn chứng tỏ bản thân là người lớn.
+ Bị lôi kéo bởi các nhóm bạn xấu
+ Gặp các thất bại trong cuộc sống, có tâm trạng chán nản, buông xuôi, tuyệt vọng…
+ Tò mò thử và không có bản lĩnh để dừng lại.
Căng thẳng là trạng thái tâm lí khá phổ biến ở học sinh trung học phổ thông
Nội dung giáo dục học sinh cá biệt:
Để giáo dục được học sinh cá biệt người giáo viên cần phải nắm được các yêu cầu cần thiết sau như:
Đặc điểm tâm lý của học sinh cá biệt.
Những yếu tố tích cực và tiêu cực tác động đến học sinh, bạn bè và môi trường sống như:
+ Ảnh hưởng của nhóm bạn.
+ Ảnh hưởng của gia đình.
+ Ảnh hưởng của môi trường sống, các quan hệ xã hội khác.
Những khó khăn về từng phương diện của học sinh.
Những nhu cầu, sở thích, mong muốn, điểm mạnh của từng học sinh.
Tạo cho học sinh niềm tin, quan niệm của học sinh về các giá trị trong cuộc sống.
Giáo viên phải nắm được khả năng nhận thức, động cơ học tập của từng học sinh.
Tính cách với những đặc điểm cơ bản, coi trọng để phát huy nét tích cực và triệt tiêu nét tiêu cực của học sinh.
 
Gửi ý kiến