âm nhạc
Chào mừng quý vị đến với website của bùi ngọc sơn
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tản mạn Tiếng Việt- cao Xuân Hạo

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Ngọc Sơn (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:14' 08-02-2016
Dung lượng: 130.0 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Bùi Ngọc Sơn (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:14' 08-02-2016
Dung lượng: 130.0 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
“Tiếng Việt không phải là tiếng Pháp, và tuy rất khác với tiếng Pháp về nhiều phương diện, nhất là về ngữ pháp, nó vẫn là một thứ tiếng trong sáng, chính xác, tinh tế, đẹp đẽ, hoàn toàn xứng đáng được dân ta quý trọng và nâng niu, chứ không ghê sợ như những cố gắng kiên trì của nhà trường phổ thông và đại học đã làm cho học sinh ghê sợ, không cần phải nhào nặn và cắt xén cho vừa cái khuôn của ngữ pháp tiếng Pháp như sách giáo khoa của ta đã nhào nặn và cắt xén, không đáng bị coi khinh như các cơ quan truyền thông của ta vẫn coi khinh khi hàng ngày truyền bá một thứ tiếng Việt dịch từng chữ một từ tiếng Anh ra, bất chấp mọi quy tắc nói năng và viết lách của dân tộc”.
Mạnh hơn bão táp
Từ năm 1953, khi tôi rời đoàn văn công để đi học lại, cho đến nay, khi đã trở thành một “nhà” ngôn ngữ học già, tôi chưa bao giờ khắc phục nổi tâm lý tự ty và ganh tị đối với các nhà khoa học chân chính – những người giảng dạy và nghiên cứu các môn khoa học chính xác: toán học, vật lý học, hoá học, sinh học. Hồi mới vào trường Dự bị Đại học, trong tờ tự khai về lý do chọn ngành văn, thay cho những trang rực lửa mà các bạn đồng học của tôi viết về những ước mơ cao đẹp của một “kỹ sư tâm hồn” tương lai, tôi chỉ viết được mỗi một dòng: “Tại tôi quá dốt toán”. Tôi đã được kiểm điểm nghiêm khắc về thái độ “miệt thị ngành nghề”. Thật ra, tôi chỉ viết quá thật.
Cách đây không lâu, trong một buổi nói chuyện với các giáo sư toán lý, tôi thú thật niềm ganh tị của mình và nói thêm: “Ngành chúng tôi chỉ có được một điểm để tự hào: đó là nó đã đi được vào vốn văn học truyền khẩu dân gian trước các anh. Câu “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” là một câu tục ngữ được truyền tụng từ mấy chục năm trước, và cho đến hôm nay chắc không còn một công dân Việt Nam nào không thuộc nó làu làu.” Các giáo sư toán lý cười rộ. Đáng lẽ họ nên khóc mới phải.
Nhiều cán bộ lãnh đạo nền giáo dục của ta đã thấy rõ tính vô hiệu quả của cách dạy tiếng Việt ở nhà trường: vào đại học, nhiều sinh viên chưa biết viết một bức thư cho đúng ngữ pháp và chính tả; đến nỗi Bộ phải ra quyết định buộc sinh viên năm thứ nhất ở tất cả các trường phải học “Tiếng Việt thực hành”, và nhiều giáo sư văn học đã phải thốt lên: “Mong sao sau mười hai năm học phổ thông con tôi vẫn còn nói và viết được tiếng Việt như trước khi đi học! ” Một ông bạn cũ lâu năm gặp lại, nay là hiệu trưởng trường trung học cơ sở, khi biết tôi đang dạy và viết về tiếng Việt, liền tái mặt đi và van xin tôi tha thiết: “Anh chớ viết thêm cái gì mới nữa đấy! Chỉ thay đổi xoành xoạch như mấy năm nay, giáo viên dạy tiếng Việt trường tôi cũng đã đi Biên hòa mất hai người rồi!” Và tôi cũng đã được nghe chính người thầy cũ của tôi (một Nhà giáo Nhân dân) phát biểu trong một cuộc hội nghị do Bộ tổ chức là nên bỏ hẳn môn tiếng Việt ở trường phổ thông “để dành thì giờ học những môn có ích hơn hay ít ra cũng không có hại bằng”.
Dĩ nhiên, khi nghe những lời như thế, tôi và các bạn đồng nghiệp không khỏi thấy lòng đau như cắt, thấy danh dự của mình bị xúc phạm sâu xa, và ví thử vị giáo sư nói trên không phải là thầy tôi, thì tôi đã không ngăn được một cử chỉ phản ứng hỗn xược. Nhưng chỉ một giây sau, tôi, cũng như bất cứ ai có chút lương tri, phải tự nhủ rằng câu nói phũ phàng ấy hoàn toàn có đủ căn cứ.
Thế nhưng, trong khi các giáo sư toán lý hoá luôn luôn thấy mình cần ra sức rút ngắn cái khoảng cách giữa mình và khoa học tiên tiến của thế giới (một khoảng cách dễ hiểu và đáng được thông cảm nếu ta nhớ rằng nước mình đã phải trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt khiến cho khoa học của ta ít nhiều cũng bị cách ly với sự phát triển như vũ bão của khoa học thế giới trong mấy mươi năm ấy), thì chúng tôi, các nhà giáo của khoa ngữ văn, lại không giây phút nào thấy mình cần làm việc đó. Không những thế, mà trong chúng tôi còn có không ít người thấy mình vượt lên phía trước rất xa so với các nước khác, đến nỗi trong một cuộc họp khoa, tôi đã tai nghe mắt thấy một bạn đồng nghiệp yêu cầu các giảng viên ngữ học khuyên sinh viên từ nay trở đi không dẫn các tác giả ngoại quốc nữa
 






Các ý kiến mới nhất